8 bếp cho chủ mạng Cấn mở cửa cái chính đông - Công ty Kiến trúc ASPACE

8 bếp cho chủ mạng Cấn mở cửa cái chính đông

Cửa cái tại Chấn (chính Đông), chủ nhà hay sơn chủ tại Cấn. Lời tượng ứng về ngôi nhà: Long phó sơn trung, thiếu nhi lang.  

Cửa cái tại Chấn (chính Đông), chủ nhà hay sơn chủ tại Cấn. Lời tượng ứng về ngôi nhà: Long phó sơn trung, thiếu nhi lang.

Ý nghĩa: Rồng đến trong núi, ít con cái. Long là Rồng ám chỉ vào Chấn, sơn là núi chỉ và Cấn. Cửa Chấn (chính Đông) khắc chủ Cấn là hàng thiếu nam họa hại. Lại Chấn Cấn thuần dương chẳng sinh hóa được nên nói ít con cái.

Từ cửa cái Chấn (Chính Đông) biến 4 lần tới chủ Cấn phạm Lục sát nên gọi là Lục sát trạch. Cấn Chấn thuần dương tương khắc phạm Lục sát là hung Du niên, khiến cho tiểu nhi tuyệt hại và chết chóc, nam nữ đều chẳng sống lâu, sinh ra các vụ tán tài, quan tụng, trộm cắp, tuyệt tự, con nuôi nắm giữ gia sản... Cấn thổ thuộc màu vàng bị Chấn mộc khắc, sinh ra các chứng bệnh vàng da, phù thũng, tỳ vị, phong bệnh.

Cửa Chấn (Chính Đông) với chủ Cấn phối 8 chỗ đặt bếp:

Bếp đặt tại Kiền (Tây Bắc): dương kim khắc cửa Chấn (chính Đông) và là bếp Ngũ quỷ rất hung hại, rất bất lợi. Dù Kiền với chủ Cấn tương sinh và hỗ biến được Thiên y hữu khí rất tốt nhưng thuần dương Khôn đủ bù trừ các sự bất lợi Ngũ quỷ.

Bếp đặt tại Khảm (chính Bắc): dương thủy đối với cửa Chấn (chính Đông) tương sanh, đối với chủ Cấn tương khắc, cát hung bằng nhau.

 

Bếp đặt tại Cấn (Đông Bắc): dương thổ cũng như chủ Cấn đối với cửa Chấn (Chính Đông) là thổ khắc (Cấn bị Chấn khắc) bất lợi cho hàng tiểu nhi.

 

Bếp đặt tại Chấn (Chính Đông): dương mộc đối với cửa Chấn (chính Đông) tỷ hòa và là bếp Phục vị đăng diện khá tốt. Nhưng Chấn với chủ Cấn tương khắc và hỗ biến Lục sát hung hại. Bếp này hung cát tương đương.

 

Bếp đặt tại Tốn (Đông Nam): âm mộc đối với cửa Chấn (chính Đông) dương mộc là âm dương tỷ hòa và là bếp Diên niên tuy thất vị nhưng vẫn tốt. Nhưng Tốn đối với chủ Cấn tương khắc và thuần dương nhưng vinh chẳng thận hòa.

 

Bếp đặt tại Ly (Chính Nam): âm hỏa đối với cửa Chấn (chính Đông) tương sinh và là bếp Sinh khí đắc vị, lại được cách mộc hỏa thông minh, cầu tiền, sắm của, công danh thành tựu. Nhưng Ly là cửa đốt chủ Cấn là đất phải khô, phụ nữ tàn bạo, hiếm con.

 

Bếp đặt tại Khôn (Tây Nam): âm thổ bị cửa Chấn (chính Đông) khắc và là bếp Họa hại, mẹ lìa cha, tiểu nhi khó nuôi dưỡng, nam nữ đoản thọ. Nhưng Khôn với chủ Cấn tỳ hòa và hỗ biến được Sinh khí tuy thất vị cũng khiến cho sang kế khá tốt.

 

Bếp đặt tại Đoài (chính Tây): âm kim khắc cửa Chấn (chính Đông) và là bếp Tuyệt mạng, trong số nhân đinh nữ nhiều nam ít, hiếm con, chết yểu, lắm sự bại tuyệt. Nhưng Đoài với chủ Cấn tương sinh và hỗ biến được Diên niên hữu khí là phát tài và có năng lực giải giảm các sự hại của Tuyệt mạng.

 

Tám hướng bếp trên đây đều thuộc về chủ nhà mạng Cấn, Lục sát trạch. Cửa Chấn (chính Đông) Đông trạch nhưng chủ Cấn Tây trạch cho nên gọi ngôi nhà này là Đông Tây tương hỗn trạch, không có bếp nào trọn tốt hay trọn xấu, hễ lợi cho cửa thì hại chủ, bằng lợi chủ thì hại cửa.